Chào mừng Khách ( Đăng nhập | Đăng kí )

IPB
 
Reply to this topicStart new topic
> Hồ Dzếnh, Mầu Cây Trong Khói... . The Tree Color
truonghoang
post Dec 14 2006, 12:25 AM
Bài viết #1

Chuẩn tướng
******

Nhóm: Chỉ huy
Bài Viết: 378
Gia Nhập: 6-October 06
Đến Từ: Cố đô Huế
Thành Viên Thứ: 211



Hồ Dzếnh tên thật là Hà Triệu Anh (Hồ Dzếnh là phiên âm của Hà Anh theo giọng Quảng Đông).

Ông sinh năm 1916 tại làng Đông Bích huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa. Cha là người Quảng Đông, sang sinh sống ở Việt Nam từ khoảng 1890, mẹ là người Việt.

Hồ Dzếnh ra Hà Nội học trung học, dạy tư, viết thơ, viết báo từ năm 1931. Năm 1953 vào Sài Gòn làm báo, năm 1954 trở về Hà Nội viết báo, làm thơ.

Ông mất ngày 13 tháng 8 năm 1991 tại Hà Nội.

Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Quê Ngoại (1942), Hoa Xuân Đất Việt (1946); tập truyện ngắn Chân Trời Cũ (1942); và các tiểu thuyết Một Truyện Tình 15 Năm Về Trước (1942); Những Vành Khăn Trắng (1946).

Sự pha trộn của hai giòng máu chi phối nhiều sáng tác của tác giả. Tập thơ Quê Ngoại gây được nhiều ấn tượng nhất với những lời thơ êm đềm, nhẹ nhàng, trong sáng, và những cảm xúc đằm thắm chân thành dành riêng cho "quê ngoại" thân thương...



Thi sĩ hai dòng máu Việt – Hoa


Nhà thơ Hồ Dzếnh tên thật là Hà Triệu Anh, sinh năm 1916 tại xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, cha ông là Hà Kiến Huân, gốc Hoa từ Quảng Ðông, Trung Quốc di cư sang Việt Nam vào những năm cuối cùng của thế kỷ 19, gặp mẹ ông là Đặng Thị Văn, một cô gái chở đò ngang trên sông Ghép - Thanh Hoá. Hai người thành gia thất, sinh sống bằng đổi chác hàng hóa ở các chợ bến sông, trên một con đò dọc.

Thuở nhỏ, Hồ DZếnh sống với cha mẹ ở núi Thanh Hoá (huyện Như Xuân). Sau khi bố lấy vợ hai, ông sống với mẹ ở làng Đông Bích, rồi thị xã Thanh Hoá và theo học trường Nhà Chung. Từ cấp trung học, ông ra học ở Hà Nội, vừa học vừa kiếm sống bằng nghề gia sư và làm công cho các hiệu buôn người Hoa.
Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ngay từ đầu buổi thành lập (1957). Sinh ra và lớn lên khi đất nước còn đang chìm trong cảnh nô lệ lầm than, hồn thơ của Hồ Dzếnh như thể một hạt "lệ ngọc" được kết tinh từ cuộc đời lam lũ của cha, của mẹ, của bản thân và của đồng bào ông. Ngay từ 1937, Hồ Dzếnh đã làm thơ, viết truyện ngắn đăng trên các báo: Trung Bắc Chủ nhật, Tiểu thuyết thứ bảy, Tập san Mùa gặt mới…
Kháng chiến chống Pháp ông về sống ở Thanh Hóa, sau ngày hòa bình (1954), Hồ Dzếnh trở lại Hà Nội, ông tham gia Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam một khóa. Sau đó đi thâm nhập thực tế, làm thợ đúc thép và hợp cơ khí ở nhà máy xe lửa Gia Lâm. Sống với công nhân và sáng tác văn học ở Hà nội.

Giai thoại bút danh Hồ Dzếnh



Nhà thơ Hồ Dzếnh nếu phát âm theo giọng Quảng Đông là Hồi-Tsìu-Díng, thu gọn lại là Hồi-Díng, chắc vì khi phiên âm sang tiếng Việt hai tiếng Hồi-Díng nghe không được hay lắm nên ông đã ghi là Hồ Dzếnh. Tuy vậy anh em văn nghệ vẫn cứ trêu đùa gọi anh là Hồ Dính, có người còn đặt một vế đối:
Hồ Dính dính hồ hồ chẳng dính để thách đối. Lúc có người đối lại là: Ngọc Giao giao ngọc ngọc không giao mượn tên nhà văn Ngọc Giao. Cũng có người đối lại: Vũ Bằng bằng vũ vũ chưa bằng, mượn tên nhà văn Vũ Bằng, nhưng đều chưa chỉnh.


Sự nghiệp văn chương trên đất Việt
Thành công nhất của Hồ Dzếnh, theo nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình thì tập truyện Chân trời cũ, vì đó là một phần tự truyện của ông. Với Lời tựa của nhà văn Thạch Lam: “Những truyện ông kể cho ta biết toàn là những chuyện về gia đình ông, gia đình của những người Trung Hoa nhẫn nại và chịu khó sang lập nghiệp ở bên này. Một người cha lầm lì, suốt ngày không nói, một người mẹ Việt Nam vào hạng những người đàn bà chỉ biết có chịu khó về chồng con, không bao giờ một lời phàn nàn hay oán hận, mà cái uớc mong sung sướng nhất là cái cớ được hy sinh mãi. Và một vài nguời con, một vài người nông dân Trung Hoa – sáng lập thành cái gia đình mà số phận hình như bắt buộc phải buồn rầu. Sau khi người cha qua đời, thì cái thời sung túc, đoàn tụ cũng mất đi”.
Trong “Lời giới thiệu” Tuyển tập Hồ Dzếnh – Tác phẩm chọn lọc, NXB Văn Học 1988, nhận định: “Tác phẩm của Hồ Dzếnh không nhiều, lại không tập trung ở một tờ báo hay đặc san nào. Với bản chất trầm lắng, ông luôn luôn khiêm tốn tự cho mình là người mới bắt đầu bước vào nghề viết. Tuy nhiên, với hai tập văn thơ Chân trời cũ và Quê ngoại, Hồ Dzếnh được biết đến như một nhà thơ có chân tài”.
Nhà văn Kiều Thanh Quế đã nhận xét trong tạp chí Tri Tân số 67, ngày 13.6.1942 rằng: “Ngòi bút Hồ Dzếnh đã có được lắm đặc tánh khả quan trong khi phô diễn. Nó nên tỏ ra có sức mạnh trong những tiểu thuyết dày dặn, thì tên tuổi của người Minh Hương ấy – Hồ Dzếnh là người Minh Hương, văn học quốc ngữ không nề hà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu nhà văn Việt Nam hữu tài”.
Nhà thơ Hoài Anh trong tập Chân dung văn học, NXB Hội Nhà văn 2001 nhận định về Hồ Dzếnh: “Phần đóng góp quan trọng nhất cho văn học Việt Nam của anh lại là tập Chân trời cũ, thể hiện nếp sinh họat, tính cách, tình cảm, tâm lý của bà con gốc Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hồ Dzếnh chỉ kể chuyện về người cha mình, các anh, chị, em mình, con ngựa của cha mình… mà làm cho người đọc Việt Nam rung động tận đáy lòng”.
Riêng tập truyện Cô gái Bình Xuyên, NXB Tiếng Phương Đông, 1946 ca ngợi cuộc kháng chiến chống Pháp của quân dân Nam bộ hồi 1945 - 1946 và được nhà văn, giáo sư Đặng Thai Mai trong tạp chí Tiên phong ghi nhận như một tín hiệu đầu tiên của văn học kháng chiến.


Chuyện tình của Hồ Dzếnh
Chuyện tình của ông cũng rất hoàn cảnh với nhiều nỗi ngang trái éo le nhưng lại hạnh phúc đến cuối đời.
Mối tình thứ nhất: Ông lập gia đình với cô nữ sinh giác ngộ cách mạng, thoát ly gia đình từ năm 1942, làm công tác tuyên truyền cho Mặt trận Việt Minh tên là Nguyễn Thị Huyền Nhân. Năm 1950, bà Huyền Nhân mất vì bệnh dịch tả để lại cho ông một đứa con trai mới bốn tháng tuổi. Còn thiếu sữa, ông phải bế con đi khắp nơi xin bú chực. Thông cảm hoàn cảnh khó khăn của ông, chính quyền Cách mạng cấp giấy phép để ông về Hà Nội chữa bệnh cho con và tìm kiếm gia đình, tức người anh ruột thứ hai, ông Bích, nhưng lúc đó ông này đã vào Sài Gòn làm ăn, nên Hồ Dzếnh vào Sài Gòn tìm anh. Ở đây, ông viết cho báo Thần Chung với bút hiệu Hoàng Liên – ngụ ý ngậm đắng nuốt cay để kiếm sống.
Mối tình thứ hai: Năm 1953, vợ góa của nhà thơ Trần Trung Phương cho tái bản tập thơ Mấy vần tươi sáng của người chồng tài hoa đã chết trẻ, nhiều anh em đã gợi ý cho bà mời Hồ Dzếnh viết lời giới thiệu cuốn sách. Nhưng mọi người lại bàn bạc cho Trúc Khanh viết. Trong buổi tiệc giới thiệu tập sách, hai người đã quen nhau rồi sau đó yêu nhau. Trong đám cưới của hai người, có người đã mừng câu đối:
Vợ góa nhà văn, lấy nhà văn góa vợ,
Con nuôi nước Việt, nhờ nước Việt nuôi con.

Sau đây là bài tiền thân của bản nhạc "Chiều"... DTT trên đây (chưa có trong tranh HD của ĐT)!




Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây

Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay


Tôi là người lữ khách
Mầu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là Rừng
Ngỡ hồn mình là Mây


Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói xanh bay lên cây





Hồ Dzếnh tên thật là Hà Triệu Anh (Hồ Dzếnh là phiên âm của Hà Anh theo giọng Quảng Đông). Ông sinh năm 1916 tại làng Đông Bích huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa. Cha là người Quảng Đông, sang sinh sống ở Việt Nam từ khoảng 1890, mẹ là người Việt.
Hồ Dzếnh ra Hà Nội học trung học, dạy tư, viết thơ, viết báo từ năm 1931. Năm 1953 vào Sài Gòn làm báo, năm 1954 trở về Hà Nội viết báo, làm thơ.
Ông mất ngày 13 tháng 8 năm 1991 tại Hà Nội.
Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Quê Ngoại (1942), Hoa Xuân Đất Việt (1946).
Sự pha trộn của hai giòng máu chi phối nhiều sáng tác của tác giả. Tập thơ Quê Ngoại gây được nhiều ấn tượng nhất với những lời thơ êm đềm, nhẹ nhàng, trong sáng, và những cảm xúc đằm thắm chân thành dành riêng cho "quê ngoại" thân thương.












Mầu Cây Trong Khói

Trên đường về nhớ đầy...
Chiều chậm đưa chân ngày,
Tiếng buồn vang trong mây...
Chim rừng quên cất cánh,
Gió say tình ngây ngây,
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay ?
Tôi là người lữ khách,
Mầu chiều khó làm khuây,
Ngỡ lòng mình là Rừng,
Ngỡ hồn mình là Mây,
Nhớ nhà châm điếu thuốc,
Khói xanh bay lên cây... (1)


(1) Ở đây chúng tôi chép theo bản in đầu tiên của Quê Ngoại năm 1942. Trong những lần tái bản, bài thơ được đổi tên là Chiều và câu cuối được đổi thành:
Khói huyền bay lên cây...









Laden with memories on my way home
I saw the dusk slowly snuff out the sun.
A mournful cry echoed amongst the clouds.
And the birds still lingered in the forest
While tipsy winds were filled with blissful love.
Is this the age-old fit of angst
That drives my soul deep down tonight?
Just as a wayfarer I am
I find no comfort in the dusky hues.
Taking my heart to be the woods,
Thinking my soul must be the cloud.
Homesick I then light up a smoke
Letting blue puffs rise to the trees. (1)


Translated by Thomas D. Le
10 December 2004... here!
(1) This version comes from the 1942 edition. Later editions changed the poem's title to Eventide, and the last verse reads,
Letting black puffs rise to the trees.
Tài liệu đính kèm(s)
Đính Kèm  chieutimdanthocopybh5.gif ( 81.5k ) Số lượng tải: 6
Đính Kèm  chieuduongthieutuoccopyvc9.gif ( 74.04k ) Số lượng tải: 6
 



Mob. 0918177771
Skype:hoang.dddl
Go to the top of the page
 
+Quote Post
kinhk19c
post Dec 15 2006, 11:36 AM
Bài viết #2

Ôm đời ngủ muộn ...
********

Nhóm: Chỉ huy
Bài Viết: 1.495
Gia Nhập: 8-March 05
Đến Từ: Huế - Đà Nẵng - Hội An
Thành Viên Thứ: 9



Tuyệt lắm "Chiều"!

K



Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa...
Go to the top of the page
 
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
> 1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người Ẩn Danh)
0 Thành Viên:

 

.::Phiên bản rút gọn::. Thời gian bây giờ là: 18th November 2019 - 09:18 AMSpring Style