Chào mừng Khách ( Đăng nhập | Đăng kí )

IPB
 
Reply to this topicStart new topic
> HÀN MẶC TỬ, Thơ Điên HMT - Thi học của cái tột cùng
kinhk19c
post May 20 2005, 05:30 PM
Bài viết #1

Ôm đời ngủ muộn ...
********

Nhóm: Chỉ huy
Bài Viết: 1.495
Gia Nhập: 8-March 05
Đến Từ: Huế - Đà Nẵng - Hội An
Thành Viên Thứ: 9



Thơ Điên Hàn Mặc Tử - Thi học của cái tột cùng (Phần 1)

Sau các bài này sẽ gửi đến bài viết của Trần Mạnh Hảo trên eVăn ngày 25/11/2004 phê bình Chu Văn Sơn trong cách hiểu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.

Nguyên bài bình giảng này của Chu Văn Sơn về Đây thôn Vĩ Dạ được in trong cuốn Ba đỉnh cao Thơ Mới, Nxb Giáo Dục, 2003, tr. 246-269. Chúng tôi sẽ giới thiệu bài này để độc giả có tài liệu tham khảo, so sánh.

Song, theo chúng tôi, để hiểu được đúng Chu Văn Sơn trong việc bình giảng bài thơ cụ thể này, trước hết bạn đọc nên tham khảo phần "lý thuyết" về Thơ Điên Hàn Mặc Tử, được Chu Văn Sơn trình bày trong tiểu luận Thơ Điên Hàn Mặc Tử - Thi học của cái tột cùng. (Được in cùng trong cuốn Ba đỉnh cao Thơ Mới, tr. 226-245).

Thơ Điên Hàn Mặc Tử - Thi học của cái tột cùng là một tiểu luận khoa học được trình bày chặt chẽ. Song vì dung lượng khá lớn của nó, chúng tôi xin tóm tắt những điểm chính như dưới đây:

· Đầu tiên, Chu Văn Sơn cho rằng, trong toàn bộ sự nghiệp của Hàn Mặc Tử thì Thơ Điên trong tập Đau thương là phần quan trọng nhất, "phần đặc sắc nhất" làm nên tên tuổi ông.

· Tiếp theo, Chu Văn Sơn giới hạn Thơ Điên là "một loại hình thơ được chủ trương bởi Hàn Mặc Tử và các nhà thơ thuộc phái Trường Thơ Loạn".

· Chu Văn Sơn xác định đối tượng khảo sát của Thơ Điên là tập Đau thương.

· Trong các phần tiếp theo (từ a đến e), Chu Văn Sơn đi sâu khảo sát Thơ Điên ở 5 điểm đặc trưng sau: cảm xúc đặc thù (đau thương); chủ thể (cái tôi ly-hợp bất định); kênh hình ảnh (kỳ dị); mạch liên kết (dòng tâm tư bất định); lớp ngôn từ nổi bật (lớp từ cực tả).

· Trong phần khảo sát về mạch liên kết của Thơ Điên, Chu Văn Sơn chọn bài Đây thôn Vĩ Dạ làm ví dụ điển hình.

· Chu Văn Sơn cho rằng Đây thôn Vĩ Dạ đích thực là "thành viên thứ thiệt" của Thơ Điên, chứ không phải ngẫu nhiên bị lạc vào Thơ Điên như nhiều người nghĩ.

· Lý do là: "Có thể nhận rõ mạch liên tưởng cóc nhảy, đứt đoạn, bất định - liên tưởng điên - trong chuỗi hình ảnh" của Đây thôn Vĩ Dạ.

· Chu Văn Sơn chỉ ra mạch liên tưởng ấy "cóc nhảy", "đứt đoạn", "bất định" như thế nào.

· Chu Văn Sơn kết luận: "Phi logic ở bề mặt, nguyên phiến, nguyên điệu ở bề sâu, đó chính là siêu logic - nét thi pháp Thơ điên điển hình của Đây thôn Vĩ Dạ. Và siêu logic chẳng phải là kiểu tột cùng của liên kết thơ sao?".

Tóm tắt trên của chúng tôi chỉ có mục đích giúp bạn đọc nhanh chóng nắm bắt được những phần cốt yếu trong tiểu luận của Chu Văn Sơn, nhằm hiểu đúng ông, chứ không phải là sự đánh giá đúng - sai, hay - dở. Và cũng xin lưu ý, dù đã rất cố gắng, song tóm tắt này của chúng tôi vẫn có thể thiếu chính xác hoặc sai lệch so với ý của tác giả.

Dưới đây là nguyên văn tiểu luận.



Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa...
Go to the top of the page
 
+Quote Post
kinhk19c
post May 20 2005, 05:40 PM
Bài viết #2

Ôm đời ngủ muộn ...
********

Nhóm: Chỉ huy
Bài Viết: 1.495
Gia Nhập: 8-March 05
Đến Từ: Huế - Đà Nẵng - Hội An
Thành Viên Thứ: 9



Thơ Điên Hàn Mặc Tử - Thi học của cái tột cùng [1/2]
Chu Văn Sơn

Nói đến Hàn Mặc Tử là nói đến nhà thơ lạ nhất của Phong trào Thơ Mới, người "cai trị Trường thơ Loạn của các nhà thơ Bình Định"1. Nói đến thơ ông, người ta nhớ đến thơ Cổ điển trong Lệ Thanh thi tập, thơ Lãng mạn trong Gái quê... nhưng, hơn tất cả là nhớ đến Thơ Điên trong Đau thương. Có thể nói chính Thơ Điên chứ không phải gì khác là phần đặc sắc nhất đã làm nên cái "lạ" kia, làm nên tên tuổi và ngôi vị Hàn Mặc Tử.

Trong lời tựa "Điêu tàn" - vẫn được xem là bản tuyên ngôn chung của Trường Thơ Loạn mà Tử là "kẻ cai trị" - có viết: "Cái gì của nó cũng tột cùng. Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn cả tủy là tủy. Thế mà có người tự cho là hiểu được nó, rồi đem so sánh nó với Người, và chê nó là giả dối, không chân thật. Vâng! Nó không chân thật, nó giả dối với Người. Với nó, cái gì nó nói đều có cả" 2. Cái gì nó nói đều có cả, đó là nguyên tắc chân thật. Điều ấy không phải là độc quyền của thi phái này so với các thứ thơ khác. Cái gì của nó cũng tột cùng, đó mới là nguyên tắc mĩ học đặc thù của Thơ Điên. Đọc Hàn Mặc Tử, ta sẽ thấy cái ham muốn tột bậc của thi sĩ này là tìm đến một cõi thơ tuyệt đối, đi đến một thứ thơ mà cái gì ở đó cũng phải là tột cùng (Dĩ nhiên, tột cùng đây là theo cách quan niệm của thi sĩ). Là thi phẩm vào loại đắc ý nhất của ham muốn này, Thơ Điên đã hiện rõ trên diện mạo của mình cả sức mạnh cùng giới hạn của những cái tột cùng ấy.

Cái tên có phần "giật gân" của Thơ Điên, ngay từ đầu đã có sức mê hoặc giới nghiên cứu. Người ta nghĩ ngay đến việc nhận diện bản chất của Điên và bản chất Thơ Điên. Không ít người đã yên chí với cách nghĩ giản đơn: điên chỉ là một trạng thái bệnh lí, đồng nghĩa với chứng loạn thần kinh, mà không thấy rằng còn có điên như một trạng thái sáng tạo. Đó là lúc cảm hứng đến như một cơn "sốc", người làm thơ lâm vào một cơn sáng tạo như "lên đồng". Ý thức tỉnh táo như mờ đi, lùi lại phía sau, nhường phần lớn quyền điều hành qui trình sáng tạo cho tiềm thức, vô thức. Chế Lan Viên phân biệt giữa làm thơ của những thi sĩ thường tình với trường hợp Hàn Mặc Tử trong Thơ Điên là bị thơ làm, chủ yếu bởi điều này. Tuy nhiên, đa phần là lao vào việc nhận diện Thơ Điên, mà cũng thường lấy tiêu chí của Thơ Lãng mạn, Tượng trưng , Siêu thực... để xếp nó vào các ô ấy3. Nhưng Thơ Điên vốn là một dung hợp đa tạp, nó bướng bỉnh không chịu ở yên trong một ô nào. Việc dùng những tiêu chí của những khuynh hướng thơ có sẵn để soi xét một hiện tượng thơ mới nảy sinh là điều cần thiết - giúp ta phân loại và định giá rõ một trường hợp cá biệt trong cái mặt bằng chung. Song, một sáng tạo thực sự mới lạ bao giờ cũng có sự bất kham nào đấy, những ngăn ô, yên cương cũ rất dễ bị chối bỏ. Vả chăng, đấy cũng chỉ là cái thao tác sau. Sao trước hết không bắt đầu bằng việc hình dung về cái diện mạo của nó. Biết đâu, cái diện mạo riêng kia sẽ đòi phải có một ngăn ô mới. Biết đâu Thơ Điên chỉ có thể hợp với... Thơ Điên. Tôi cho là như thế, Thơ Điên Hàn Mặc Tử đó là Thi học của cái tột cùng.

Khái niệm "Thơ điên" vẫn được lưu hành với ít nhất ba tư cách: một là, một thi phẩm, nó chính là tập thơ "Đau thương"; hai là, một khuynh hướng thi ca không chỉ tồn tại ở Việt Nam, có thể nói bắt đầu từ Mallacme; và ba là, một loại hình thơ được chủ trương bởi Hàn Mặc Tử và các nhà thơ thuộc "trường thơ loạn" Bình Định. Ở đây, nó được đề cập đến chủ yếu ở tư cách thứ ba. Và đối tượng khảo sát cơ bản là tập "Đau thương".

Trước hết, cần khẳng định: Thơ Điên không phải là một phát minh mới về thể loại. Nó vẫn thuộc phạm trù Thơ Mới. Nhưng là một dạng thức Thơ Mới đặc biệt. Nghĩa là bên cạnh những đặc trưng của "loài" Thơ Mới, nó vẫn có những đặc trưng về "giống" riêng. Những khái quát dưới đây về diện mạo của thơ Điên không phải chủ yếu từ những tuyên ngôn về một mô hình thơ thuộc ý thức lí thuyết, mà chủ yếu từ thực tế sáng tác. Những đặc trưng ấy tồn tại trong thế ràng rịt lẫn nhau, nên việc tách bạch chỉ là tương đối.

a) Nguồn cảm xúc đặc thù của thơ Điên: đau thương
Chúng ta đều biết một chân lí quen thuộc: "Thơ là tiếng lòng" (Diệp Tiếp). Mỗi tiếng thơ đều xuất phát từ một tiếng lòng riêng. Một loại hình thơ, xét một mặt nào đó, là một tiếng lòng được điệu thức hoá. Mà tiếng lòng là cảm xúc. Cái nguồn cảm xúc tìm đến hình thức thơ Điên chính là đau thương vậy.

Nhiều người đã động tới đau thương4. Nhưng không phải ngay từ đầu "đau thương" đã được hiểu một cách đúng đắn. Suốt mấy chục năm qua, trong giới "Hàn học", vẫn không ít người, bởi lí do nào đấy, cứ đánh đồng đau đớn về thân xác với đau khổ về tinh thần để hạ thấp thơ Hàn xuống thành những tiếng rên siết của một xác thân bệnh hoạn, để nhìn nhận nó như một thứ suy đồi. Chúng ta không loại trừ những Đau đớn thân xác đã đầu quân khá đông vào thơ Tử. Nhưng chỉ có thế không thôi, làm sao có thể thành thơ được. Chỉ khi nào những đau đớn xác thân, với một cơ chế nào đấy, chuyển hoá sang địa hạt tinh thần, hoá thân vào nỗi đau khổ tinh thần, thì khi ấy tiếng nói của nó mới cất lên thành thơ. Nhìn một cách khác, đau đớn thân xác chỉ là những chất liệu để Hàn Mặc Tử biểu hiện những đau khổ tinh thần của mình. Đó là một rắc rối mà cũng là một ma lực của thơ Tử. Về bản chất, đau thương ở Hàn là một niềm tuyệt vọng lớn. Và đây chính là nguồn cảm xúc ở cung bậc tột cùng của tiếng nói trữ tình. Niềm tuyệt vọng được dâng lên từ thực thể bệnh hoạn mà gia nhập vào cõi tinh thần hay từ tinh thần đã tan thấm vào mọi nơi chốn của xác thân? Niềm tuyệt vọng đến từ một sự đứt gẫy nào đó trong tâm thể hay từ một dự cảm thường trực về cái chết cận kề cứ chốc chốc lại vồ chụp lấy tâm trí Tử ném thẳng nó xuống cái vực không đáy của hư vô? Có lẽ là cả hai. Cho nên trong thơ Tử, ta có thể cảm nghe được cả một thế giới bên trong vô hình đang lâm vào tuyệt vọng qua những tiếng rên rỉ rớm máu của thân xác bên ngoài. Nếu ai kia "viết dưới giá treo cổ"5, thì Tử đang viết dưới cái bóng vừa huơ lên của lưỡi hái tử thần. Sống đối với Tử, bấy giờ, là một cuộc chạy đua bạt vía tuyệt vọng đối với tử thần. Chữ "mãnh liệt" e rằng không còn đủ độ để diễn tả trạng thái sống như một dây đàn ở cái chót điểm sắp sửa đứt phăng của Tử. Sống tức là yêu. Lòng yêu sống đã đẩy thi sĩ đến cận kề cái tiếng nổ tự phá huỷ của cõi tinh thần. Cho nên đó cũng chính là cái nỗi cô đơn đặc biệt: nỗi cô đơn quá tải. Chỉ có những kẻ xấu số bất hạnh thế mới có được trải nghiệm này. Vậy là, đau thương ở Tử là một thứ siêu nghiệm. Đau thương vừa là dạng thức vừa là cung bậc của cảm xúc thơ thường trực trong hồn thơ Hàn Mặc Tử.

Song, điều đẹp đẽ là ở chỗ: tuyệt vọng có thể chấm dứt hi vọng, nhưng không chấm dứt tình yêu. Tình yêu ở Tử càng mãnh liệt càng tuyệt vọng, càng tuyệt vọng lại càng mãnh liệt. Và, như một nghịch lí không khó hiểu, tình yêu tuyệt vọng đó đã trở thành một cách thế yêu đời của Hàn Mặc Tử. "Phải vì tất cả đều đang đi đến cái chết, nên tất cả mới hiện lên rực rỡ đến thế". Không có ai tha thiết với cuộc đời cho bằng một người sắp sửa lìa đời. Nhìn cuộc đời ở thời điểm chót cùng của đời người đó là tâm thế trữ tình, là tâm thế sáng tạo đặc thù của Hàn Mặc Tử trong Thơ Điên. Tại thời điểm ấy, niềm thiết tha đồng nhất với nỗi đau đớn - càng thiết tha càng đau đớn, càng đau đớn càng thiết tha. Nghịch lí của niềm tuỵêt vọng kia cũng chính là như vậy. Và đây là cái gốc của thơ Điên. Đúng thế, nếu Đau thương là nội dung sáng tạo, thì Điên là hình thức của sáng tạo ấy. Nói cách khác Điên chính là sự hiện hình, sự cất tiếng của Đau thương. Tất cả những yếu tố dị thường đến mức kỳ quái nữa, sở dĩ có thể thành thơ được là nhờ được đảm bảo bằng một thứ siêu nghiệm như thế.

Có lẽ chưa cảm thông hết với nguồn sống thuộc về siêu nghiệm này, mà Xuân Diệu, trong bài "Thơ của Người" 6, đã tỏ ý nghi ngờ Thơ Điên. Trái lại, Chế Lan Viên - một thi hữu của Hàn - ngay từ đầu đã tiền hô hậu ủng, và đến khi viết giới thiệu cho Tuyển tập của người bạn tri kỉ xấu số, vẫn giữ vững ý kiến bênh vực sắc bén của mình. Ông dẫn ra một tiếng thơ có một vẻ rất "điên", và chỉ ra yếu tố nào đã đem lại sức sống chân chính cho nó: "Chúng ta cần có người tả trăng là trăng. Nhưng cũng cần có người vượt lề thói tập đoàn mà xẻ trăng làm hai nửa (...) Cần truyền thống nhưng cũng cần biến dị, cần nói những điều chưa ai nói (...) Hôm nay có một nửa trăng thôi / Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi /... Không phải ma thuật, kĩ thuật gì của óc đang lạm phát ngôn từ. Lòng có bị cắn đôi, đời có bị tan vỡ, tình có bị đứt đoạn, nghĩa là có một thảm sử gì làm trữ kim, làm đảm bảo, thì mới có thể phát ra những từ ấy". 7 Thế đấy, đau thương chính là thứ trữ kim tột cùng của thơ Hàn.

Nhờ thứ trữ kim này, người ta chẳng những thấy được cái lí của những hình thức kì dị, quá xa lạ, mà còn xuyên qua rào cản của những cảm giác kinh dị để nhận chân những nỗi niềm thơ chân chính của thi nhân. Thơ Điên vì thế là tiếng kêu rỏ máu của con chim sắp lìa trần, là tiếng nói của những hụt hẫng tan hoang, là tiếng nói của một thân phận bị dồn đẩy đến miệng vực của nỗi chết, chới với bên miệng vực ấy mà ngoái nhìn đời, nuối đời, níu đời. Mỗi tiếng thơ khác nào một lời nguyện cuối, một lời tuyệt mệnh. "Tôi còn trìu mến biết bao người / Vẻ đẹp xa hoa của một trời / Đầy lệ đầy thương đầy tuyệt vọng? / Đây giờ hấp hối sắp chia phôi", "Ta trút linh hồn giữa phút đây / Gió sầu vô hạn nuối trong cây / Còn em sao chẳng hay gì cả / Xin để tang anh đến vạn ngày"... Cảm xúc chia lìa vĩnh biệt luôn choán ngợp cõi lòng, vò xé tâm can. "Lòng thi sĩ chứa đầy trang vĩnh biệt.", "Than ôi ! Hỡi biệt li chan chứa / Tưởng cùng em vui hưởng thú tiêu dao / Anh sắp đi và hai hàng lệ ứa / Cả đau thương dồn dập xót tâm bào", "Sao thơ anh toàn nhuộm màu li biệt / Rên không thôi và nức nở cả ban đêm"... Có thể nói, bước vào Thơ Điên là bước vào cái thế giới quằn quại của tinh thần. Nó là biểu hiện của những giằng xé quyết liệt giữa Bóng tối của Bệnh tật, Chết chóc, Ma quỉ với ánh sáng của Tình yêu, Sự sống, Thần thánh... giữa Cố chấp, Thù hận, Hẹp hòi với Khoan dung, Độ lượng, Cao cả... giữa Địa ggục hắc ám với Thiên đường quang minh... Tất cả những phản trái nghịch lí của nó đều là ngôn ngữ của đau thương.

Tuy trong các tuyên ngôn của mình, Hàn Mặc Tử đây đó tỏ ra không thật "tâm phục khẩu phục" Baudelaire, nhưng trường ảnh hưởng từ vị sư tổ của chủ nghĩa Tượng trưng phương Tây này lớn đến mức khó cưỡng được, cho nên không thể không thấy Thơ Điên có dây mơ rễ má với "Hoa ác". Bởi hướng thơ của tác giả "Hoa ác" tuy vẫn được coi là đi tìm Cái đẹp trong Cái ác, nhưng suy cho cùng, nó vẫn là bông hoa mọc lên từ cái gốc Đau thương. Dầu vậy, Đau thương của Thơ Điên căn bản vẫn là cất lên từ thân phận thảm sử của Hàn Mặc Tử, có nghĩa: căn bản là nội sinh. Không có cái căn cốt là giá máu mà Hàn đã đánh đổi cho mỗi tiếng thơ của mình thì chưa chắc Thơ Điên đã đi xa hơn việc chạy theo một cái mốt tân kì để có thể làm rớm máu tâm can người đọc ở tận thế kỉ này. Và Đau thương đã tự tìm đến những hình thức của nó theo kiểu Hàn Mặc Tử.

b. Chủ thể Thơ Điên: Cái Tôi ly - hợp bất địnhTrong thơ trữ tình, việc chủ thể phân thân, hóa thân vào các đối tượng hết sức khác nhau để cất lên những tiếng nói trữ tình phong phú khác lạ không còn là điều xa lạ nữa. Ở Thơ Điên, tình hình có khác hơn. Sự phân li của chủ thể ở đây không theo lối tuyến tính mà theo lối đồng hiện: một xác thân nhiều nhân cách. Toàn những "nhân cách" phản trái nhau và phản trái với chính thơ."Thi sĩ không phải là Người - lại vẫn lời tuyên ngôn chung của trường thơ Loạn - Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỉ, là Tinh. Nó thoát hiện tại. Nó xối trộn Dĩ Vãng. Nó ôm trùm Tương Lai". 8 Đau thương đã biến chủ thể Thơ Điên thành một chủ thể sinh hoá màu nhiệm kì khôi - "Cả một miệng ta trăng là trăng/ Cả lòng ta vô số gái hồng nhan / Ta nhả ra đây một nàng/ Cho mây lặng lờ cho nước ngất ngây...". Dường như chính Đau thương đã tạo ra một cuộc nổ vỡ nào đó của tinh thần mà phá vỡ tính nhất thể của cái Nguyên Tôi, phân li nó thành muôn mảnh. Mỗi mảnh vừa là một phân thân của Cái Tôi kia lại vừa là một cái Tôi khác tự lập - "Kìa ai gánh máu đi trên tuyết / Với lại ai ngồi khít cạnh tôi / Mà sao ngậm cứng thơ đầy miệng / Không nói không rằng nín cả hơi...". Xác thân là một Tôi, Hồn lại tách ra thành một Tôi khác, đùa cợt, rượt đuổi, trêu tròng nhau, thậm chí thôn tính lẫn nhau - "Ta khạc hồn ra ngoài cửa miệng.../ Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng / Hồn đã cấu đã cào nhai ngấu nghiến...Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay / Hồn mệt lả còn tôi thì chết giấc, Ôi điên cuồng! ôi rồ dại! rồ dại / Ta cắm thuyền chính giữa vũng hồn ta...". Dầu sao đó chỉ là sự sinh hóa trong một thực tại ảo. Không thể say mê với thực tại ảo đó mãi được, muôn mảnh ấy tất sẽ tái thống nhất trong một bản tướng, bản thể duy nhất bằng chính Đau thương - "Thưa tôi không dám say mê / Một mai tôi chết bên khe ngọc tuyền / Bây giờ tôi dại tôi điên / Chắp tay tôi lạy cả miền không gian...". Việc tạo ra kiểu chủ thể này ít nhiều thấy cả trong thơ Bích Khê, Chế Lan Viên, Hoàng Diệp, Xuân Khai...Và người ta cho rằng Văn hoá Chàm cùng với những bóng ma Hời phổ biến ở vùng thành Đồ Bàn đã nhập vào thế giới thi ca của Trường Thơ Loạn kia. Điều này có lẽ có thực. Song ở Hàn Mặc Tử, cái ngoại nhập mờ hơn cái nội sinh. Chính đời sống thực thể đặc biệt của Hàn Mặc Tử, nhất là ở giai đoạn sau, lúc nào cũng chập chờn bất định giữa Thực tại và Chiêm bao, lại có lúc cận kề cái chết hay xuất hồn siêu thăng vào cõi khác, là cái vốn nội sinh đã đồng hóa những ngoại nhập đó thành cái chủ thể sinh hóa kì dị này. Nó cũng là một thứ siêu nghiệm mà chỉ những người như Hàn Mặc Tử mới trải qua. Và, không có cái chủ thể sinh hóa một xác thân nhiều nhân cách quái đản ấy làm sao chủ thể Thơ Điên có thể hiện ra như một Kẻ Điên để làm nên diện mạo của loại hình thơ này được? Song, điều đáng nói hơn ở đây phải là: chủ thể như thế chính là cái hình thái tột cùng của một chủ thể trữ tình.

c) Kênh hình ảnh tân kì của Thơ Điên: những vẻ kì dị
Nếu không có kênh hình ảnh này, chưa chắc Đau thương đã được gọi là Thơ Điên. Cũng vì thế, ai đã đọc Thơ Điên, không thể không thấy vẻ kì dị, kinh dị tràn ngập ở đó. Người này thấy Tử hay nói đến sự tan loãng của xác thân với những rơi rụng, tàn rữa. Người khác thấy Tử thường chuyển vô số cảm nhận thuộc các giác quan khác về một khí quan là cái miệng, là "khẩu cảm" với những động thái ăn, nuốt, đớp, nhả, mửa, khạc... vốn rất kị giơ với thi ca truyền thống. Và nhất là ai cũng đã từng bị "sốc" trước những vẻ kinh dị hãi hùng của Trăng - Hồn - Máu. Không ít người gọi đó là vẻ đẹp kì dị: "... Tôi toan hớp cả váng trời / Tôi toan đớp cả miếng cười trong khe", "Ta cắn lời thơ để máu trào", "Ta há miệng cho hồn thơ trào vọt", "Cười no nê sặc sụa cả mùi trăng", "Ta khạc hồn ra ngoài cửa miệng", "Hồn vội mớm cho tôi muôn ánh sáng", "Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa / Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô / Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy / Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra...". Có thể nói không ngoa rằng đó là cả một cuộc nổi loạn trong cảm giác của thi ca. Với những vẻ kinh dị này, Thơ Điên muốn xé rào để tìm kiếm cho thơ những miền cảm giác mới - cảm giác mạnh, đẩy cái kinh dị đến tột cùng. Dù nó có phần xa lạ với Người.

Thực ra, vẻ kinh dị trong thơ Hàn Mặc Tử không quá xa lạ. Người ta đã từng tiếp nhận cái kì trong truyền thống ở những chuyện ma quỉ dân gian, ở những Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, Truyền kì mạn lục, cả đây đó trong Truyện Kiều... của ta và Liêu trai chí dị của Tàu. Và đương thời Hàn cũng không phải là hiếm đồng minh trên con đường phiêu lưu vào thế giới của cái kinh dị. Ngoài những thi hữu thân cận, có thể thấy cả Thế Lữ, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Bùi Hiển.v.v... Song, có thể nói, quyết đi tìm sự lạ chính là động cơ lớn chi phối hành trình sáng tạo của Hàn Mặc Tử. Trong tiểu luận "Nghệ thuật là gì?", ông đã viết: "Quăng mình đi giữa cái vũ trụ mênh mông, rượt nà theo những nguyện vọng cao xa, những cái ý nghĩa, ấy là do cái năng lực tinh thần mạnh mẽ nó thúc giục mình (...) Bồn chồn, ta quyết đi tìm sự lạ". 9 Tuy thế, động cơ vẫn sẽ chưa chịu nổ dù đã nạp đầy nhiên liệu, nếu như không nhờ đến cái bu-gi đánh lửa Baudelaire. Cả Xuân Diệu - "mới nhất trong các nhà Thơ Mới", lẫn Hàn Mặc Tử - lạ nhất trong những nhà Thơ Mới, đều chia nhau ảnh hưởng từ bậc thầy của Chủ nghĩa Tượng trưng này. Nếu Xuân Diệu đã nhận từ Baudelaire lối tư duy Tương ứng - chủ yếu là tương ứng giữa các giác quan - làm một la bàn hữu hiệu để đi vào "thế giới của Du Dương" mà săn tìm những vẻ đẹp trần thế, thì Hàn Mặc Tử lại lĩnh từ tác giả "Hoa ác" một cảm quan ma quái để đi mãi vào thế giới Đau thương, rồi cứ bị thôi miên bởi những Vẻ đẹp kì dị, kinh dị. Baudelaire đã tìm kiếm chất thơ ở những vật ghê rợn kinh hãi như xác chết, máu me, xương tủy, sự dâm đãng v.v... Đến lượt mình, Hàn Mặc Tử và các thành viên của trường thơ Loạn cũng tìm thi hứng và nói rất thoải mái đến những xác chết, sọ dừa, đầu lâu, mồ hoang, giếng loạn, xương khô, sự trần truồng, sự dâm đãng... Tuy nhiên, trong khi các thi hữu của mình như Chế Lan Viên, Bích Khê nghiêng về sự tuân thủ những quan niệm lí thuyết, nghĩa là tuân theo những mô thức do họ phác ra từ trước, thì riêng Hàn Mặc Tử lại có một đời sống thực thể rất gần với cái thế giới kinh dị đó. Ông thường xuyên rơi vào tình trạng cô đơn tuyệt đối, tinh thần bị vây khốn giữa một cõi sống đơn độc, luôn bị ám ảnh bởi nỗi chết của riêng mình, và dường như lúc nào cũng có thể cảm thấy mười mươi cái bóng đen đúa, cái âm khí lạnh ngắt cùng đôi mắt rùng rợn của Tử thần, cho nên tinh thần của thi sĩ luôn lạc giữa cái trùng vây của những biểu tượng kinh loạn nhất của thế giới khác. Nghĩa là bản thân cõi tinh thần của Tử đã là kinh dị. Cả yếu tố nội tại này lẫn quan niệm từ phương xa kia mới hội đủ những lí do khiến Hàn Mặc Tử nói đến cái kinh dị với cường độ lớn đến thế và tự nhiên như là máu thịt đến thế.

Dầu sao cũng phải nói thêm rằng: Nếu chỉ có cái kinh dị không thôi, hẳn Thơ Điên cũng sẽ là quá tải ngay cả với những người nghiện săn lùng những cảm giác gai gợn trong thơ. Thơ Điên sở dĩ vẫn là nó không chỉ vì nó được bảo hiểm bằng nỗi đau thương tột cùng, mà còn bởi Cái Kinh dị luôn biết chung sống hoà bình với những vẻ đẹp khác. Chỉ nói riêng ba biểu tượng Trăng - Hồn - Máu cũng thấy rằng, những hình ảnh được sáng tạo về chúng có cả những gì kinh dị nhất, cũng có cả những gì lộng lẫy nhất mà thơ ca có thể làm được. Trăng chẳng hạn: có "Trăng tự tử", "Trăng ngã ngửa vỡ tan thành vũng đọng vàng khô", "Trăng sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu"... nhưng cũng có "Trăng vàng, trăng ngọc", có "Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ / Đầy mình lốm đốm những hào quang", có "Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay"... Phải chăng tham vọng Thơ điên của Hàn Mặc Tử là hướng tới cái tột cùng về cả hai thái cực?

(Còn nữa)



Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa...
Go to the top of the page
 
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
> 1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người Ẩn Danh)
0 Thành Viên:

 

.::Phiên bản rút gọn::. Thời gian bây giờ là: 20th October 2018 - 11:52 AMSpring Style